
Có người kể lại rằng, người xưa đã dùng vỏ sò giã thành bột, dây tơ hồng giã nát, vắt lấy nước, rồi trộn với mật mía để làm chất kết dính giống như xi măng.
Giếng làng quê tôi ngày ấy nước rất trong, cả làng dùng chung. Ai đến trước múc trước, nếu lúc nào đó quá đông người đến lấy nước, ai không kịp múc thì vui vẻ ra về. Phương tiện vận chuyển nước là đôi thùng thiếc. Đường làng quê tôi ngày ấy khi trời nắng, cát nóng bỏng chân. Ấy vậy mà đàn bà con gái ở quê ai cũng phải biết gánh nước, nếu không biết gánh thì không thể được xem là vợ hiền dâu thảo. Nước giếng làng gánh về đổ vào lu, mỗi lần uống cứ lấy gáo dừa, lon sữa bò múc uống ừng ực mà không cần phải đun sôi. Có lẽ thời ấy nguồn nước tinh khiết, chưa bị ô nhiễm. Dân làng quê tuy nghèo nhưng hào phóng lắm, trước mỗi hiên nhà hoặc ngoài sân đều có cái lu chứa nước, ai khát, kể cả những người lạ qua đường cứ việc múc uống thoải mái...
Giếng làng thời xa xưa ấy không còn. Ngày nay số hộ dân trong làng vẫn còn dùng nước giếng nhưng là giếng riêng của gia đình.
Lúc nhỏ, tôi cứ thắc mắc, không hiểu vì sao cả làng chỉ có một cái giếng, khi đất còn rộng, người còn thưa, mà không chịu đào thêm giếng để đỡ vất vả gồng gánh, nhất là những nhà ở xa giếng? Có lẽ sức hấp dẫn của cái giếng làng là vì nơi ấy những đôi trai gái có thể hò hẹn, tâm tình, trao đổi, nhắn nhủ… Bây giờ, đường ống nước máy đã đến tận cửa của nhiều gia đình, thật tiện dụng. Nhưng tôi cứ tiếc nhớ mãi cái giếng làng xa xưa ấy.
Trần Hữu Ngư
| ||||||||||||||
|
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||